Hệ thống
HyperLink
HyperLink
HyperLink
Đối tác
BÁO CÁO (tóm tắt) VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC, TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Để tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) xin báo cáo với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban cán sự đảng Chính phủ về kết quả công tác vận động trí thức, về tổ chức bộ máy Liên hiệp hội Việt Nam từ sau Đại hội lần thứ VII (nhiệm kỳ 2015-2020) đến nay và những kiến nghị, đề xuất đối với Đảng và Chính phủ như sau:

I. Kết quả hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam với vai trò là tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tập hợp, đoàn kết trí thức KH&CN Việt Nam

Trong thời gian qua với tư cách là tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ chính sau:

- Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với đội ngũ trí thức: Đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhằm tập hợp và đoàn kết trí thức, vận động trí thức tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay vẫn còn một số trí thức, trong đó có cả một vài cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu có những ý kiến, quan điểm trái chiều. Trước tình hình đó, Đảng đoàn Liên hiệp Hội Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan chức năng, kiên trì trao đổi, thuyết phục và bước đầu đã có kết quả tốt.

- Về công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước: đã chủ động đề xuất, tham mưu cho Đảng và Nhà nước nhiều vấn đề lớn về KH&CN, giáo dục và đào tạo, chính sách đối với trí thức; đề xuất, cử đại diện làm thành viên của một số ban chỉ đạo, hội đồng tư vấn,... để thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; ký nhiều thỏa thuận hợp tác với các bộ, ban, ngành, đoàn thể để củng cố, phát triển các tổ chức của trí thức KH&CN, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh.

II. Tạo môi trường thuận lợi để thực hiện công tác vận động trí thức thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, nghề nghiệp

Liên hiệp Hội Việt Nam đặc biệt chú trọng, quan tâm tạo môi trường để tập hợp trí thức, thông qua các hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp để trí thức có thể đóng góp sức lực, trí tuệ cho đất nước, chủ yếu tập trung vào các hoạt động sau đây:

- Hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN: tập hợp những trí thức KH&CN tâm huyết, giàu kinh nghiệm nhằm truyền bá kiến thức KH&CN trong nhân dân, tập trung vào hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe..., đặc biệt chú ý đến nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

- Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội: đã có tác động tích cực và nâng cao hiệu quả trong xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật, tạo điều kiện để trí thức đóng góp ý kiến thẳng thắn, khách quan, dựa trên cơ sở khoa học về những vấn đề có liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, trước hết là trên lĩnh vực KH&CN, giáo dục và đào tạo, xây dựng đội ngũ trí thức.

- Hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững: hàng năm Liên hiệp Hội ở Trung ương và địa phương triển khai các đề tài nghiên cứu các cấp để tiến hành áp dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất và đời sống.

- Hoạt động tôn vinh trí thức, khuyến khích và thúc đẩy phong trào sáng tạo KH&CN: Liên hiệp hội Việt Nam đã thường xuyên tổ chức tuyển chọn, trao Giải thưởng Sáng tạo KH&CN, Hội thi sáng tạo kỹ thuật, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên và nhi đồng,...; xét chọn và tôn vinh các trí thức KH&CN tiêu biểu thuộc các hội thành viên; hàng năm tổ chức các hoạt động nhân Ngày KH&CN Việt Nam, tổ chức thăm hỏi, động viên trí thức.

- Hoạt động hợp tác quốc tế: đã tích cực, chủ động thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế, cử cán bộ tham gia các diễn đàn đa phương, chủ trì tổ chức nhiều hội nghị quốc tế, tiếp đón các đoàn vào, đoàn ra, triển khai nhiều dự án hợp tác quốc tế phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường,…

III. Về tổ chức bộ máy của Liên hiệp Hội Việt Nam

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và nhất là Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06/8/2008 và Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16/4/2010, nhằm khẳng định vai trò, vị trí là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam và tạo điều kiện cho Liên hiệp Hội Việt Nam hoạt động, Nhà nước đã thể chế bằng nhiều quyết định. Thủ tướng Chính phủ đã phê chuẩn Điều lệ (Quyết định số 1795/QĐ-TTg ngày 21/10/2015). Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định tại Khoản 2, Điều 2 như sau: “Nước CHXHCN Việt Nam… nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.  Hiện nay, Liên hiệp Hội Việt Nam có hệ thống gồm 2 cấp với 149 hội thành viên, gồm 63 Liên hiệp Hội KH&KT địa phương và 86 Hội ngành toàn quốc, gần 300 tổ chức KH&CN và đã tập hợp, thu hút được trên 2,8 triệu hội viên, trong số đó có khoảng 1,5 triệu trí thức, chiếm gần 1/3 số trí thức trong cả nước.

- Về Đảng đoàn và đoàn thể: Đảng đoàn Liên hiệp Hội Việt Nam được thành lập từ năm 1993, có 1 Hội ngành toàn quốc có Đảng đoàn. Ở các tỉnh, thành phố, 49 Liên hiệp hội địa phương có Đảng đoàn. Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam trực thuộc Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương gồm 55 chi bộ với trên 600 đảng viên. Liên hiệp Hội Việt Nam có Công đoàn cấp trên cơ sở trực thuộc Công đoàn Viên chức Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản trực thuộc Đoàn Khối các cơ quan Trung ương.

- Về tổ chức, bộ máy và kinh phí NSNN của Liên hiệp Hội ở Trung ương và địa phương: kể từ sau Nghị quyết số 27-NQ/TW và Chỉ thị số 42-CT/TW tổ chức bộ máy của Liên hiệp hội ở địa phương đã cơ bản được kiện toàn. Tuy nhiên, số lượng biên chế được Nhà nước giao không nhiều, trong toàn hệ thống từ Trung ương đến địa phương chỉ khoảng 420 biên chế và kinh phí từ ngân sách Nhà nước mỗi năm cấp cho hệ thống ở Liên hiệp Hội ở Trung ương và 63 địa phương chỉ khoảng 100 tỷ đồng.

IV. Đánh giá chung

1- Về Liên hiệp Hội Việt Nam: Dù chỉ được giao 34 chỉ tiêu biên chế, ngân sách Nhà nước cấp khoảng trên 40 tỷ đồng/năm bao gồm cả chi thường xuyên và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, thời gian qua, nhất là từ khi thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW của Bộ Chính trị đến nay, Liên hiệp Hội Việt Nam đã thể hiện tốt vai trò là tổ chức chính trị - xã hội có hệ thống từ Trung ương đến các địa phương, thực sự là nơi hội tụ của đội ngũ trí thức KH&CN, đã thực hiện tốt công tác tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức KH&CN; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với trí thức KH&CN, góp phần ổn định tình hình chính trị, tư tưởng trong đội ngũ trí thức. Sự hình thành, tồn tại và phát triển các hội của trí thức, trong đó có Liên hiệp Hội Việt Nam là yếu tố khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.

2- Về sự quan tâm của Đảng và nhận thức của cấp ủy, chính quyền đối với đội ngũ trí thức: Bộ chính trị và Ban bí thư Trung ương Đảng rất quan tâm và đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác trí thức, tuy nhiên, một số cấp ủy và chính quyền các cấp vẫn chưa nhận thức đầy đủ  về vị trí, vai trò cũng như tầm quan trọng của các tổ chức tập hợp trí thức.

3- Về việc thể chế hóa chủ trương của Đảng: Hiện nay, còn nhiều bất cập trong việc thể chế hóa các văn bản của Đảng. Một số chính sách chậm được ban hành, không sát thực tế. Nghị định số 45/2010/NĐ-CP về hội không còn phù hợp với các quan điểm của Đảng về liên minh công nhân, nông dân và trí thức.

IV- Một số kiến nghị

Nhân dịp tổ chức Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đúng với quan điểm chỉ đạo là: ... Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững”, đồng thời để đáp ứng với tình hình mới, Đảng đoàn Liên hiệp Hội Việt Nam xin phép được trình bày với Bộ Chính trị và Ban Bí thư bốn kiến nghị như sau:

1. Căn cứ vào các văn bản của Đảng đã ban hành khẳng định vị trí, vai trò của các hội tập hợp và đại diện cho đội ngũ trí thức như Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam và Hội Nhà báo Việt Nam, nhằm ổn định tình hình tư tưởng của đội ngũ trí thức, đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương quán triệt đầy đủ mục tiêu, quan điểm, các nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết số 27-NQ/TW, Chỉ thị số 42-CT/TW; thống nhất, nhất quán thể hiện quan điểm về vị trí, vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chính trị - xã hội, đại diện cho đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam có hệ thống từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, một số cấp ủy, chính quyền địa phương đã tiến hành một số biện pháp chưa phù hợp với quan điểm chỉ đạo nhất quán của Đảng đối với đội ngũ trí thức. Việc này không chỉ xảy ra đối với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật mà còn xảy ra cả với các tổ chức đại diện trí thức khác như Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật và Hội Nhà báo ở các địa phương. Đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm chỉ đạo các cấp ủy và chính quyền địa phương cần thận trọng trong việc này để tránh nguy cơ vì áp lực tinh giản bộ máy hành chính mà làm yếu những tổ chức nòng cốt của Đảng, Nhà nước trong công tác vận động trí thức.

3. Trong các văn bản chỉ đạo của Đảng, đặc biệt là Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị đã nêu rõ những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều lệ hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn cũng đã xác định những nhiệm vụ cụ thể, Trong Kết luận số 102-KL/TW ngày 22/9/2014 của Bộ Chính trị cũng nêu rõ:“Đối với các hội do Đảng có nhu cầu, chỉ đạo thành lập và giao thực hiện các nhiệm vụ thì Nhà nước tiếp tục cấp kinh phí và tạo các điều kiện để hoạt động“. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện tinh giản bộ máy hành chính, một số địa phương đang xây dựng kế hoạch tinh giản tổ chức, bộ máy của các hội do Đảng chỉ đạo thành lập theo hướng giao khoán kinh phí hoạt động gắn với nhiệm vụ được Nhà nước giao. Mức khoán kinh phí thường thấp hơn mức kinh phí trước năm 2017. Để thống nhất trong công tác chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương, đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu và xác định rõ các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho Liên hiệp Hội Việt Nam ở Trung ương và địa phương, từ đó làm căn cứ để thực hiện giao hoặc khoán kinh phí hoạt động tương xứng với nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà các Liên hiệp Hội địa phương đang gặp phải.

4. Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác vận động trí thức, đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII, cũng như trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Liên hiệp Hội Việt Nam (nhiệm kỳ 2020-2025), bố trí một đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng có uy tín đối với trí thức tham gia vào Ban lãnh đạo Liên hiệp Hội Việt Nam.

 

Nơi nhận:

- Như kính gửi,

- Văn phòng Trung ương,

- Ban TGTW, Ban TCTW, Ban DVTW,

- Ủy ban Kiểm tra Trung ương,

- Văn phòng Tổng Bí thư,

- UBTW MTTQVN,

- Bộ Nội vụ,

- Các ủy viên Đảng đoàn LHHVN,

- Lưu: VPĐĐLHHVN.

 

 

TM. ĐẢNG ĐOÀN

BÍ THƯ

 

 

 

 

 

 

Đặng Vũ Minh

 

 

 

Đặng Vũ Minh
Số lượt đọc: 438 - Ngày cập nhật: 10/07/2018
 Về trang trước    Bản in    Về đầu trang
Bài đã đăng:
12345678910...
TRANG CHỦ       GIỚI THIỆU       LIÊN HỆ
Designed by  Ninh Thuan Software