Hệ thống
HyperLink
HyperLink
HyperLink
Đối tác
CÁC CÂY THUỐC NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN THƯỜNG DỦNG ĐỂ CHỮA BỆNH

 CÁC CÂY THUỐC NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN THƯỜNG DỦNG

 ĐỂ CHỮA BỆNH

 

1

Bạch đồng nữ

14

Kim ngân

2

Bạch hạc

15

Mã tiền

3

Bưởi bung

16

Mạch môn

4

Cà gai leo

17

Mơ tam thể

5

Chuối hột

18

Ngải cứu

6

Cỏ sữa (nhỏ, to lá)

19

Ngũ gia bì

7

Dành dành

20

Sắn dây

8

Đậu ván

21

Sung

9

Gừng

22

Tô mộc

10

Hà thủ ô đỏ

23

Trắc bách diệp

11

Hà thủ ô trắng

24

Trôm

12

Hương nhu

25

Vối

13

Huyết giác

 

 

 

 

Lô hội

 

Cù đèn

 

Chùm ruột,

 

 

 

Thổ phục linh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nội dung:    Bảo tồn cây thuốc - Cơ sở của phát triển Y học cổ truyền

Viêt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, có địa hình đa dạng, thảm thực vật phong phú, nhân dân các cộng đồng dân tộc có nhiều kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc. Trước đây ở các khu vực diện tích rừng còn lớn, việc khai thác dược liệu không nhiều, còn nhiều cây thuốc có trữ lượng lớn như Vàng đắng, Thiên niên kiện, Cẩu tích, Ngũ gia bì, Sa nhân...Gần đây do nhu cầu sử dụng dược liệu tăng nhanh, Dược liệu bị khai thác bừa bãi, không kế hoạch, thu hái theo kiểu tận thu,huỷ diệt  nên làm mất khả năng tái sinh tự nhiên dẫn đến cạn kiệt nhanh chóng, nhiều loài trở nên rất hiêm. Việc khai thác tận thu từ thiên nhiên do vô ý, cố ý dẫn đến sự lẫn lộn, nhầm lẫm các dược liệu có hình dạng bên ngoài giống nhau. Thu hái dược liệu nhỏ lẻ, manh mún lại thiếu điều kiện sơ chế bảo quản dẫn đến lãng phí một lượng lớn dược liệu và chất lượng dược liệu không đồng đều. Diện tích trồng trọt cây thuốc nhìn chung cũng bị giảm đáng kể.

Tất cả những vấn đề trên dẫn tới tình trạng không đảm bảo về số lượng, chất lượng dược liệu, ảnh hưởng tới sản xuất hàng hoá tưd dược liệu, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả chữa bệnh của y học cổ truyền.

Dân tộc Chăm có kinh nghiệm và truyền thống chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Trong quá trình chữa bệnh các thầy thuốc y học cổ truyền dân tộc Chăm thường xuyên giao lưu với dân tộc Kinh, các dân tộc khác trong khu vực, y học cổ truyền Trung quốc, Ấn độ, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm chữa bệnh quý báu. Xây dựng phát triển hệ thống chữa bệnh bằng y học cổ truyền của đồng báo Chăm là phù hợp với yêu cầu, xu hướng của sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

Do sinh sống trên vùng lãnh thổ có khí hậu khô hạn, thời tiết khắc nghiệt, để bảo tồn tài nguyên thực vật đòi hỏi cần có các biện pháp cụ thể, hữu hiệu, việc bồi dưỡng những hiểu biết về bảo tồn tài nguyên cây thuốc cho cộng đồng là việc làm cần thiết, Các thành viên cộng đồng cần phải nắm được những nguyên nhân gây suy giảm cây thuốc và có ý thức trách nhiệm, thực hiện khai thác bảo tồn cây thuốc, xây dựng nguồn nguyên liệu  ổn định và có chất lượng cao.

 Những nguyên nhân làm suy giảm cây thuốc ở khu vực.

- Diên tích sinh trưởng phát triển của cây thuốc bị thu hẹp do dân số tăng, Mở rộng đất canh tác, khai thác gỗ, làm đường,  xây dựng các công trình văn hoá, dân sinh.

- Nhu cầu cây thuốc chữa bệnh tăng, sản xuất chế phẩm cần nhiều nguyên liệu, phục vụ nhu cầu xuất khẩu... dẫn tới khai thác quá mức, cây thuốc không kịp tái sinh.

- Lãng phí trong khai thác thu hái dược liệu (thu hái  không đúng thời gian, không đạt yêu cầu chất lượng, thu hái mang tính chất huỷ diệt, tổ chức vận chuyển, bảo quản không hợp lý.

- Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng do dân số tăng, bệnh tật tăng và xu hướng sử dụng các sản phẩm nguồn ốc thiên nhiên.

- Thay đổi cơ cấu cây trồng: nhiều cây trồng mới có hiệu quả kinh tế cao thay thế các cây trồng truyền thống.

- Sự biến đổi khí hậu khu vực trong những năm gần đây theo hướng bất lợi cho hệ thực vật

- Kinh nghiệm chữa bệnh được chuyển từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng "truyền miệng", ít ghi chép, dễ bị mất mát, thất lạc.

- Nhiều thuốc mới , tâm lý chuộng ngoại, coi thường y học dân tộc

 Nội dung công tác bảo tồn tài nguyên cây thuốc (theo WHO, WWF, IUCN)

(1). Nghiên cứu cơ bản gồm: Nghiên cứu tri thức sử dụng cây cỏ theo cách truyền thống trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, Nội dung: 1. xác định và hỗ trợ một tổ chức xây dựng kế hoạch điều phối và điều tra về thực vật dân tộc học. 2. Điều tra sử dụng cây cỏ làm thuốc trên quy mô toàn quốc với sự tham gia của những người hành nghề y truyền thống ở địa phương, 3. phân loại, phân tích dữ liệu trong quá trình điều tra, 4. đưa các phương thuốc cổ truyền đã được chứn minh vào các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu của quốc gia, 5. thành lập tổ chức của những người hành nghề y truyền thống ở cấp quốc gia để tham gia vào hoạt động chăm sóc sức khoẻ.

- Xác định (tên KH) cây thuốc, phân bố, mức đọ phong phú 1. Xây dựng phòng tiêu bản quốc gia, 2.lập danh mục tất cả các loài cây sử dụng làm thuốc trong nước, 3. Xác định loài cây thuốc bị đe doạ trong tự nhiên nhằm đưa ra ưu tiên trong các chương trình bảo tồn, 4. Xây dựng cơ sở dữ liệu máy tính để lưu trữ và truy cập thông tin.

(2). Sử dụng Tài nguyên cây thuốc phải được sử dụng  bền vững an toàn thông qua:

- Cơ chế luật pháp bao gồm 1.nhà nước điều hoà hoạt động thu hái/ khai thác cây thuốc từ hoang dại. 2. nghiêm cấm thu hái các lơài cây thuốc hoang dại đang bị đe doạ (trừ việc thu thập vật liệu nhân giống với lượng nhỏ theo cách không làm nguy hại đến loài cây thuốc đó, 3 kiểm soát hoạt động buôn bán cây thuốc và các sản phẩm của chúng.

- Nghiên cứu phát triển trồng cây thuốc bao gồm 1 thiết lập các vườn ươm cây thuốc, 2 cải thiện mặt nông học các loại cây thuốc được trồng và trồng các loại cây thuốc có nhu cầu nhưng chưa được trồng trước đây, 3 chọn tạo các giống cây thuốc thuần chủng có năng suất và chất lượng cao, 4. hạn chế sử dụng thuốc hoá học trong trồng cây thuốc, 5.đào tạo và cung cấp thông tin về kỹ thuật trồng trọt cây thuốc, đặc biệt là cho cộng đồng.

- cải tiến ký thuật thu hái bảo quản và sản xuất thuốc.

(3) Bảo tồn bao gồm

- Bảo tồn nguyên vị: Xây dựng khu bảo tồn chính thức của nhà nước, như vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên hay duy trì khôi phục các khu vực được bảo vệ không chính thức của các cộng đồng. nội dung hoạt động bao gồm 1.xây dựn chính sách quốc gia về bảo tồn và sử dụng cây thuốc ở các khu vực bảo vệ, 2. đánh giá phạm vi bao gòm các loài cây thuốc trong hệ thống các khu vực được bảo vệ trong toàn quốc, 3, xác định các động cơ kinh tế và xã hội thúc đẩy việc duy trì các nơi sống tự nhiên và các loài hoang dại, 4. bảo đảm hoạt đông bảo tồn và khai thác cây thuốc được kết hợp chặt chẽ trong kế hoạch quản lý, 5. trồng lại các loài cây thuốc bị thu hái quá mức vào các khu vực nuyên sản của chúng.

- Bảo tồn chuyển vị: Được thực hiện tại các vườn thực vật (VTV), vườn sưu tầm, ngân hàng hạt, nhà kính...có thể bao hàm cả việc trồng trọt không chính thức các loài cây hoang dại ở các vườn ươm, vườn gia đình hay VTV cộng đồng. Nội dung bảo tồn chuyển vị bao gồm 1. thiết lap VTV, 2 thiết lập ngân hàng hạt cây thuốc bản địa và được trồng trong nước hay 3.sử dụng các giải pháp khác như ngân hàng gen đồng ruộng (Field Genebank) ngân hàng gen invitro.

(4) Truyền thông và hợp tác: Bao gồm 1. xây dựng (cơ chế) hỗ trợ công cộng cho hoạt động bảo tồn cây thuốc thông qua truyền thông và hợp tác, 2. thiết lập chiến lược truyền thông, 3.  xác định những người tham gia, kể cả từ bên trong và ngoài tổ chức bảo tồn, 4. xác định đối tượng truyền thông, 5. xác định nội dung cần thực hiện đối với đối tượng truyền thông.

                                

 

 Phần nội dung công tác bảo tồn chọn lọc một số vấn đề có liên quan để tập huấn

 

 

BA VỎ

 

Tên latinh:

Tên khác:

Họ:

 

 

BÌNH VÔI

Tên latinh: Stephania spp.

Tên khác:  Bơ rác.

Họ:            Tiết dê (Menispermaceae).

Đặc điểm sinh thái và phân bố: Hàng năm bình vôi có hiện tượng rụng lá vào cuối thu đầu đông. Đến cuối mùa xuân (khoảng đầu tháng 4) cùng với việc ra lá non trên các chồi vụ thu – đông thấy xuất hiện hoa. Bình vôi là cây ưa sáng, khi còn nhỏ cây có thể chịu bóng, thường mọc trong các quần thể cây bụi và dây leo nhỏ ở rừng núi đá vôi ẩm.
Độ cao phân bố ở Việt Nam từ vài chục đến vài trăm mét; chưa phát hiện thấy cây ở độ cao khoảng 1000m trở lên.

Kỹ thuật trồng trọt: Tuỳ theo loài, bình vôi có thể được trồng trên đất đá vôi ở vùng rừng núi hoặc đất cát ở đồng bằng và ven biển. Đất cần có nhiều mùn, đủ ẩm, thoát nước, độ pH = 6,5 – 7.

Bình vôi có thể được nhân giống bằng cả hai phương pháp vô tính và hữu tính.

Giống:  Hàng năm vào tháng 9 – 10 thu lấy những quả chín, đãi bỏ vỏ lấy hạt để gieo trong vườn ươm vào tháng 2 – 3 năm sau. Hạt phơi khô bảo quản trong chai lọ nơi thoáng mát sau 3 – 4 tháng vẫn nảy mầm tốt, không thua kém hạt tươi, nhưng nếu bảo quản lâu hơn tỷ lệ nảy mầm sẽ giảm.

Thời vụ: Thời vụ trồng trên ruộng sản xuất vào tháng 2 – 3.

Làm đất và trồng trọt: Vườn ươm cần được bố trí ở nơi tiện tưới tiêu. Đất sau khi cày bừa tơi nhỏ, sạch cỏ dại, được đánh thành luống cao 20 cm, rộng 60 – 70 cm. Hạt được gieo thành hàng với khoảng cách 5 x 5 cm, sau đó phủ lên một lớp đất dày 1 cm rồi tưới giữ ẩm. sau 10 – 15 ngày hạt sẽ nảy mầm. Không nên bón phân lót cho vườn ươm để tránh giun, dế cỏ dại mà nên tập trung tưới nước 2 – 3 lần bằng nước phân chuồng và phân đạm. Sau một năm, cây con được đánh trồng ra ruộng. Vườn ươm cần được giữ ẩm thường xuyên và sạch cỏ.

Phòng trừ sâu bệnh

Thu hoạch chế biến và bảo quản: Bình vôi trồng 2 – 3 năm có thể cho thu hoạch củ, thời gian càng lâu năng suất càng cao. Củ thường được thu hoạch vào tháng 11 – 12 khi cây đã tàn lụi. Năng suất trung bình đạt khoảng 1 tấn/ ha củ khô. Để đảm bảo chất lượng Dược liệu và bảo vệ tái sinh cho cây, chỉ thu hoạch những củ có trọng lượng từ 800 đến 1000 g trở lên. Để có hàm lượng hoạt chất cao nhất, nên thu hoạch vào mùa thu đông.

 

 

BÙ NGÓT

Tên khác: Rau ngót.

Đặc điểm sinh thái và phân bố:
Kỹ thuật trồng trọt:

Giống:       Có 2 giống rau ngót:

+ Rau ngót lá to: sinh trưởng khỏe, thân lá màu xanh đậm, phiến lá to và mỏng, phẩm chất ngon;

+ Rau ngót lá nhỏ: thân, lá có màu xanh nhạt, phiến lá nhỏ và dày, đường gân giữa cuống lá có màu xanh nhạt, ít bị sâu bệnh hại.

Thời vụ: Rau ngót được trồng bằng phương pháp nhân vô tính, trồng một lần và thu hoạch 2-3 năm. Trong 1 năm có thể đốn 2 lần để hạn chế nhiều cây cao, tăng sức sinh trưởng của cây để đạt năng suất cao.

Rau ngót bắt đầu được chăm bón từ cuối tháng 2 đến hết tháng 10.

Làm đất:  Rau ngót không kén đất, nhưng muốn có năng suất cao, cần chọn đất thịt nhẹ, thịt trung bình, đất cát pha, độ pH từ 5,5-7,0. Đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi trồng.

Phòng trừ sâu bệnh:

* Sâu hại: Gồm một số sâu hại chính sau:

+ Rầy xanh (Empoasca sp.) hại nặng khi bị khô hạn. Phòng trừ bằng các loại thuốc: Sherpa 20 EC, Regent 80 WG, Cyperan 25 EC...

+ Nhện đỏ (Tetranychus sp.): hại nặng trong điều kiện khô hạn, sống tập trung dưới mặt lá. Cần phát hiện sớm để phòng trừ bằng các loại thuốc: Comite 73EC, Pegasus 500 SC, Ortus 5 SC.

+ Bọ phấn (Bemisa myricae): vừa gây hại, vừa là môi giới gây bệnh virut, cần phòng trừ triệt để bằng các loại thuốc Sherpa 20 EC, Karate 2,5 EC...

+ Bọ trĩ (Thrip sp.): phòng trừ bằng Admire 50EC, Confidor 100 SL, Gaucho 70 WS, Baythroid 50 SL.

* Bệnh hại: Gồm các bệnh chính sau:

+ Bệnh phấn trắng (Erysiphe sp.): hại nặng trong điều kiện khô hạn, nắng ấm. Phòng trừ khi bệnh mới chớm bị, bằng các thuốc: Anvil 5SC, Score 250 EC, Bayfidan 25EC.

+ Bệnh xoăn lá (virut): cần diệt trừ môi giới truyền bệnh là bọ phấn, nếu nặng thì phá bỏ trồng lại.

- Nồng độ thuốc và lượng nước sử dụng phải theo đúng hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc. Phải kết thúc phun trước mỗi lứa thu hoạch 7 ngày.

Thu hoạch chế biến và bảo quản: Rau ngót cho thu hoạch nhiều lứa, các đợt thu phải thực hiện nghiêm ngặt thời gian cách ly thuốc hóa học bảo vệ thực vật và bón thúc đạm. Thu hoạch đúng lứa, không để rau già giảm phẩm chất.

 

 

CAM THẢO DÂY

 

Tên latinh: Abrus precatorius L.

Tên khác: Hrế kinh

Họ:Đậu (Fabaceae)

Đặc điểm sinh thái và phân bố: Cam thảo dây là cây ưa sáng và ưa ẩm. Thời kỳ cây còn nhỏ hơi chịu bóng. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc thường rụng lá vào mùa đông, hoặc mùa khô ở các tỉnh phía nam.

Kỹ thuật trồng trọt:

Giống: Cam thảo dây được trồng hạt hoặc bằng dây vào mùa xuân.

Thời vụ: Trồng vào mùa xuân.

Làm đất và trồng trọt: Cam thảo dây không kén đất, được trồng ở khắp nơi làm cảnh và làm thuốc. Chọn chỗ cao ráo, thoát nước, đào thành hốc sâu 40 – 50cm, rộng 40x40 cm, dùng đất trộn lẫn phân chuồng lấp gần đầy hố. Nếu gieo hạt, mỗi hốc gieo 3 – 5 hạt.

Phòng trừ sâu bệnh: Cam thảo dây mọc khoẻ, ít bị sâu bệnh. Thời kỳ cây con có thể gặp sâu xám, thỉnh thoảng có sâu róm.

Thu hoạch chế biến và bảo quản: Sau khi trồng khoảng 3 tháng, có thể thu hoạch. Trung bình cứ 2 tháng thu hoạch 1 lần. Lá được hái từ dưới gốc lên để lại ngọn và 1 -2 lá non. Nếu chăm sóc tốt, trồng một lần có thể thu hái trong 2 – 3 năm.

Chế biến: thân rễ và lá cam thảo dây thu hái tốt nhát vào lúc mới ra hoa, thái ngắn, phơi khô.

 

 

 

 

CHÓ ĐẺ

 

Tên latinh:Phyllanthus urinaria L.,

Tên khác: Chó đẻ răng cưa

Họ:Thầu dầu (Euphobiaceae)

Tên khác: Diệp hạ châu.

Đặc điểm sinh thái và phân bố:

Kỹ thuật trồng trọt:

Giống: Hạt.

Thời vụ: Tốt nhất vào mùa xuân, các mùa khác cũng gieo hạt được nhưng cây sinh trưởng, phát triển kém.

Làm đất và trồng trọt: Chọn đất trồng đủ ẩm, tiện tưới nước. Sau khi làm đấy, cần bón lót cho mỗi hecta 10 – 15 tấn phân chuồng, lên thành luống cao 15 – 20 cm, rộng 1 – 1,2 m rồi gieo hạt, tưới ẩm. Có thể gieo vãi hoặc gieo theo rạch, cách nhau 15 cm, về sau tỉa định cây giữ khoảng cách giữa các cây từ 10 đến 15 cm. Trong quá trình cây sinh trưởng cần thường xuyên làm cỏ, xới xáo, tưới nước đủ ẩm và dùng 150 – 200 kg/ ha urê chia làm 2 – 3 lần để bón thúc cho cây

Phòng trừ sâu bệnh: chưa phát hiện sâu bệnh gì đáng kể

Thu hoạch chế biến và bảo quản: Toàn cây chó đẻ bỏ rễ rửa sạch, dùng tươi hay phơi sấy khô.

Chú ý:

Cây chó đẻ thân xanh (Diệp hạ châu đắng - Phyllanthus amarus Schum. et Thonn.) cũng được dùng với cùng công dụng.

 

 

 

CHÙM GUM

 

Tên latinh:

Tên khác:

Họ:

 

 

CHÙM NGÂY

 

Tên latinh: Moringa oleifera Lamk. =  Moringa pterygosperma Gaertn.

Tên khác: Cỏ dông

Họ:Chùm ngây (Moringaceae)

Đặc điểm sinh thái và phân bố: cây Chùm ngây thích nắng, chịu khô hạn. Cây có thể tưới nước nhưng đừng để rễ cây bị úng nước.

Kỹ thuật trồng trọt:

Giống: Có thể ươm bằng hạt hoặc

+ Ươm bằng hạt: Ngâm hạt chùm ngây với nước ( 02 sôi, 03 lạnh) từ 12 giờ đến 24 giờ. Dùng bao nilon (đục dưới đáy bao 2 – 3 lỗ bằng đầu đũa) hoặc chậu cây cảnh đựng cát (2/3), đất + tro trấu (1/3) đã trộn sẵn. Dùng ngón tay trỏ ấn vào giữa bao sâu bằng 2 đốt ngón tay, đặt 1 – 2 hạt chùm ngây vào rồi phủ đất lại, tưới nước vừa phải, để trong mát, tưới nước cho ẩm. Sau 03 ngày hạt sẽ nảy mầm, tiếp tục tưới nước hàng ngày. Cắm 1 que cao 5 tấc cạnh cây chùm ngây con, cột dây giữ cho cây không bị ngã. Trồng trong bao nilon hoặc trồng ngay trong chậu cảnh khoảng 8 tuần trước khi đem trồng ngoài đất.

+ Trồng hom trong chậu làm cảnh hoặc ngoài đất.

Chuẩn bị đất và cách trồng: Chuẩn bị đất cát, đất hoai, tro, trấu bón vào hố đào sẵn 40 x 40 cm, sâu 40 cm. Xé bỏ bịch nilon đặt cây con vào giữa hố ém chặt, tưới nước cho ướt. Cắm một que tre cao 5 tấc cạnh cây chùm ngây con, cột dây giữ cho cây không bị ngã.

Phòng trừ sâu bệnh: Chùm ngây không có sâu bệnh.

Thu hoạch chế biến và bảo quản:

 

 

CỎ XƯỚC

 

Tên latinh: Achyranthes aspera L.

Tên khác: Ngưu tất nam

Họ: Rau dền (Amaranthaceae),

Đặc điểm sinh thái và phân bố: cỏ xước ưa ẩm, ưa sáng và vó thể hơi chịu bóng, thường mọc ở nơi đất ẩm ven đường đi, quanh vườn và bãi hoang. Đôi khi còn gặp ở vùng nương rẫy và ven đồi. Cây mọc từ hạt vào cuối mùa xuân, sinh trưởng nhanh trong mùa hè, sau đó có hoa quả. Quả có lá bắc tồn tại nhờ gió phát tán đi khắ p nơi. Nhìn chung sau khi  có hoa quả, cỏ xước thường tàn lụi vào mùa đông. Song , cá biệt những cây mọc nơi bị che bóng hoặc  mọc muộn chưa kịp ra hoa quả trong năm, có thể tồn tại qua đông và trở thành cây sống nhiều năm.

Kỹ thuật trồng trọt:

Giống: Có thể trồng cỏ xước bằng hạt.

Thời vụ: Trồng vào mùa xuân.

 Làm đất và trồng trọt: Cỏ xước ưa đất ẩm, nhiều mùn. Trồng trên đất khô cằn, cây thấp nhỏ, rễ ngắn. Cây phát triển mạnh vào mùa hè, tàn lụi rụng lá vào mùa đông. Khả năng tái sinh vô tính của cỏ xước rất cao, chỉ cần cắt cành cắm xuống đất cũng có thể mọc thành cây. Nhưng cây thường được nhân giống bằng hạt. Hạt cỏ xước nhiều, rất dễ nảy mầm, có thể gieo thẳng hoặc gieo trong vườn ươm vào tháng 2 – 3, sau đó đánh cây con đi trồng. Hiện nay, cây chưa được sản xuất lớn, mới chỉ trồng ở quy mô thí nghiệm. Đất trồng có thể lên thành luống hoặc để phẳng thành vạt. Sau khi bón lót một ít phân chuồng, cây con được trồng với khoảng cách như trên

 Phòng trừ sâu bệnh: chưa thấy sâu bệnh hại cỏ xước.

Thu hoạch chế biến và bảo quản: rễ củ của cây một năm ít xơ hơn cây lâu năm. Thu về, rửa sạch, phơi khô là dùng được. Nếu để cây qua năm thì vào mùa đông nên cắt bỏ thân lá, chỉ giữ lại gốc để cây tái sinh vào mùa xuân năm sau. Nếu không thu hạt thì cần cắt bỏ khi chưa chín, không để hạt chín sẽ rụng xuống xung quanh gốc và lan thành cỏ dại.

 

 

CÂY DÂU

Tên latinh: Morus alba L.

Tên khác:

Họ:Dâu tằm (Moraceae)

Đặc điểm sinh thái và phân bố: Dâu tằm thuộc loài cây gỗ nhỏ, ưa ẩm và ưa sáng, thường được trồng trên diện tích lớn bãi sông , nơi đồng cao và đất bằng cao nguyên. Do bị thu hái lá và chặt tỉa cành vào mùa đông nên không thấy ra hoa qủa. Dâu tằm có khả năng tái sinh cây chồi khoẻ sau khi bị chặt.

Kỹ thuật trồng trọt:

Giống: Chủ yếu nhân giống bằng hình thức giâm cành.

Thời vụ: Ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, thường trồng dâu từ 15/11 đến 20/1, tốt nhất vào tháng 12 khi cành dâu chưa ra lộc, ở Trung Bộ, vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau và ở Nam Bộ vào các tháng 5, 6, 7 sau mùa mưa. Chọn cành có 10 – 12 tháng tuổi trên ruộng dâu có 2 – 5 năm tuổi, chặt thành từng đoạn dài 25 – 30 cm để làm hom giống

Làm đất và trồng trọt: Đất trồng tốt nhất là đất phù sa, thịt nhẹ, bazan ẩm xốp, có tầng canh tác dày ít nhất 60 cm, đủ ánh sáng. Đất cày sâu 15 – 20 cm, để ải, bừa kỹ rồi san phẳng, không cần lên thành luống. Mỗi hecta cần bón lót 15 – 20 tấn phân chuồng hoai mục, 80 – 120kg phân lân, nếu đất chua cần bón thêm vôi. Phân lót được bón theo rãnh. Rãnh được đào sâu 30 – 40 cm, rộng 30 cách nhau 1,2 – 1,5 m, rải phân, phủ đất rồi đặt hom giống 3 – 5 hàng so le, đặt hơi nghiêng, sau lấp đất gần bằng miệng rãnh. Trồng ở vườn gia đình, cần trồng thưa 2 – 3 m một khóm. Nếu trồng làm hàng rào lại trồng mau hơn, 30 – 50cm một khóm. Khi mới trồng cần giữ ẩm thường xuyên đến khi hom giống ra rễ, nảy mầm. Về sau chỉ cần tưới khi đất quá khô. Khi cây đã mọc cao 30 – 40cm, bắt đầu bón thúc bằng đạm (120 – 180kg/ha) và kali  (50 – 60kg/ha). Từ năm thứ 2 trở đi, tuỳ theo khả năng và tình hình sinh trưởng của cây, có thể bón bổ sung cho một hecta từ 15 đến 20 tấn phân hữu cơ, 150 – 500kg phân đạm, 120 – 300kg lân và 120 – 200kg kali. Lượng phân này thường được chia làm 4 phần để bón vào các tháng 3, 5, 8 và 11. Lúc mới trồng hoặc mới đốn, cây chưa giao tần, có thể trồng xen các cây họ đậu, su hào, bắp cải, cải canh... vừa để tận dụng và cải tạo đất, vừa hạn chế được cỏ dại. Nếu không trồng xen, cần định kỳ làm cỏ, xới xáo toàn bộ bề mặt giữa các hàng dâu.

Phòng trừ sâu bệnh: Dâu mới trồng thường bị dế phá hoại. Khi cây lớn thường bị rệp, sâu xanh, sâu đo và sâu đục thân.

Thu hoạch chế biến và bảo quản: Năm đầu, dâu cho thu hoạch 2 – 3 lứa lá, năm thứ hai cho 4 – 5 lứa, năm thứ ba 7 – 8 lứa. Khi thu hoạch, ngắt lá từ dưới lên để lại những lá hoàn toàn chưa sinh trưởng hết phía đầu cành. Đối với cây trồng làm thuốc, có thể hái thường xuyên khi cần.

 

 

DẦU LAI XANH

 

DÂY CHIỀU

 

ĐINH LĂNG

Tên latinh: Tieghemopanax fruticosus Vig. = Panax fruticosum L. = Polyscias fruticosa Harms,

Tên khác:

Họ: Ngũ gia (Araliaceae).

Đặc điểm sinh thái: Đinh lăng là loài cây ưa ẩm và có thể hơi chịu bóng, trồng được trên nhiều loại đất, thậm chí với một lượng đẩt rất ít trong chậu nhỏ, cây vẫn có thể trồng được theo kiểu bonsai

Kỹ thuật trồng trọt:

Giống: trồng bằng cành, chưa thấy cây con mọc từ hạt. Có khả năng tái sinh vô tính khoẻ. Với một đoạn thân hoặc cành cắm xuống đất đều trở thành cây mới.

Thời vụ: Đinh lăng trồng được quanh năm, tốt nhất là giâm cành vào tháng 5 – 6 và trồng vào tháng 7 – 8. Khi trồng nên cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, giúp cây nhanh hồi phục. Cây ưa bóng và ưa ẩm nên có thể trồng xen dưới tán cây trong vườn.

Làm đất và trồng trọt: Đầt trồng đinh lăng cần nhiều màu, tầng canh tác sâu, tơi xốp, cao ráo, thoát nước và tiện tưới. Sau khi làm đất, khơi rãnh thoát nước hoặc lên thành luống, bứng cây con ra trồng với khoảng cách 0.8 x 0,6 m. Mỗi gốc cây cần bón lót 3 – 5kg phân chuồng hoai mục. Thường xuyên làm cỏ, nhất là lúc mới trồng.

Từ giữa mùa xuân đến mùa thu, thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần bón thúc cho cây. Dùng nước phân chuồng, nước giải pha loãng, phân vi sinh hoặc NPK, liều lượng tùy mức độ sinh trưởng của cây.

Phòng trừ sâu bệnh: Đinh lăng không có sâu bệnh nghiêm trọng.

Thu hoạch chế biến và bảo quản:

Cây trồng sau 7 – 10 năm mới được thu hoạch. Cây càng già năng suất và chất lượng rễ càng cao. Rễ củ thu hái vào mùa thu, lúc này rễ mềm, nhiều hoạt chất, rửa sạch. Rễ nhỏ để nguyên, rễ to chỉ đùng vỏ rễ. Thái rễ mỏng, phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió để đảm bảo mùi thơm và phẩm chất. Khi dùng để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5%; sao qua rồi tẩm 5% mật ong, sao thơm.

 

 

GAI YẾT HẦU

 

CÂY GIẰNG XAY

Tên latinh: Abutilon indicum (L.) Sweet,

Tên khác: Cối xay

Họ: Bông (Malvaceae).

Tên khác: Cối xay.

Đặc điểm sinh thái và phân bố: Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóg ở thời kỳ còn nhỏ, thường mọc lẫn với các cây bụi thấp ở bờ rào quanh làng, ven đồi hoặc bờ nương rẫy cũ. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, rụng lá vào mùa đông hoặc mùa khô. Mỗi quả có nhiều hạt, khi chín tự mở cho hạt thoát ra ngoài. Cây con mọc từ hạt thường thấy nhiều vào tháng 3 – 5, sinh trửơng nhanh và ra hoa quả ngay trong vụ hè – thu của năm đầu tiên. Sau khi chặt phần còn lại của cây có khả năng tiếp tục tái sinh.

Kỹ thuật trồng trọt:

- Giống: Cây được nhân giống bằng hạt.

- Thời vụ: hạt được gieo vào mùa xuân trong vườn ươm sau đó đánh cây con đi trồng.

- Làm đất và trồng trọt: Cây cối xay có thể trồng ở nhiều nơi, tốt nhất là trên đất nhiều mùn, không bị ngập úng. Vườn ươm cần làm đất tơi nhỏ, lên luống vừa phải sao cho tiện chăm sóc.

Hạt nên trộn với cát, gieo vãi hoặc gieo theo hàng, dùng rơm rạ phủ lên mặt luống và tưới ẩm hàng ngày.

Đất trồng cây cối xay sau khi cày bừa, làm sạch cỏ, cần lên thành luống cao 30 cm, rộng 70 – 90 cm và bón lót một ít phân chuồng mục. Cây con được đánh đi trồng vào ngày tạnh ráo, với khoảng cách 50 x 50 cm hoặc 50 x 70cm, mỗi luống trồng 2 hàng, có thể trồng theo nanh sấu. Trồng xong nhất thiết phải tưới ngay nếu không cây sẽ chết. Cối xay cần hai lần bón thúc. Lần thứ nhất vào tháng 5 – 6 để giúp cây ra hoa, kết hạt. Có thể dùng nước phân chuồng, phân đạm hoặc nước giải pha loãng để tưới thúc.

Phòng trừ sâu bệnh: Cối xay đôi khi có thể bị sâu cắn lá. Nếu nhiều có thể dùng Sherpa 25EC để phun với nồng độ 0,1 – 0,15%

Thu hoạch chế biến và bảo quản: Khi cây cao khoảng 1m, bắt đầu thu hoạch cành lá, phơi khô và bảo quản nơi khô ráo. Hạt cối xay chín rải rác, cần định kỳ thu hạt kịp thời.

 

 

HOÀNG LIÊN GAI

 

Tên latinh:

Tên khác:

Họ:

 

 

HUYẾT RỒNG

(Là huyết giác hay kê huyết đằng?)

 

Tên latinh:

Tên khác:

Họ:

 

 

KÉ ĐẦU NGỰA

Tên latinh: Xanthium strumarium L.

Tên khác:

Họ: Cúc (Asteraceae).

Tên khác: Thương nhĩ.

Đặc điểm sinh thái và phân bố: Ké đầu ngựa ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc tương đối tập trung thành đám lớn ở các bãi trống, ven đường đi hoặc trên các ruộng trồng hoa màu mới bỏ hoang. Cây mọc từ hạt vào khoảng tháng 4 – 5, sinh trưởng nhanh trong mùa hè, sau khi có hoa sẽ tàn lụi vào khoảng giữa mùa thu. Ké đầu ngựa có nhiều hoa quả. Quả có gai móc, vướng vào lông của động vật, quần áo ngừơi để phát tán đi xa. Ké đầu ngựa được trồng trong các vườn thuốc nam, trạm xá, bênh viện ở nhiều nơi.

Kỹ thuật trồng trọt:

-     Giống: Cây được gieo thẳng bằng hạt.

-         Thời vụ: thời vụ chính là tháng 2 - 3

-         Làm đất và trồng trọt: Cây không kén đất, đất bào cũng trồng được, trừ đất ngập úng, đất có nhiều sỏi đá. Đất cần làm nhỏ, lên thành luống cao 20 – 25 cm, rộng 70 – 80 cm, rạch thành hàng cách nhau 30 cm, bón lót một ít phân chuồng, sau đó gieo hạt. Hạt dễ mọc. Khi cây con cao 7 – 10 cam, tỉa bớt để lại khoảng cách 20 – 30cm giữa các cây. Thời kỳ cây con và lúc sắp ra hoa, có thể bón thêm its đạm. Thỉnh thoảng làm cỏ, vun gốc. sa

-         Phòng trừ sâu bệnh.

Thu hoạch chế biến và bảo quản: Sau khi trồng 4 – 5 tháng bắt đầu thu hoạch. Quả thu hái làm nhiều đợt, thân lá vào tháng 6 – 7 Thu xong phơi hoặc sấy khô, cất giữ nơi khô ráo.

 

 

KIM VÀNG

(Có phải là để gọi cây Hoàng liên ô rô không?)

Hoàng liên Ô rô (Mahonia bealei Carr.), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae),

Tên latinh:

Tên khác:

Họ:

 

 

LẠC TIÊN

 

Tên latinh: Passiflora foetida L.

Tên khác: Chùm bao, dây nhãn lồng, dây bầu đường (Đà Nẵng)

Họ: Lạc tiên (Passifloraceae)

 

Đặc diểm sinh thái, phân bố:

Trong số 15 loài thuộc chi Passiflora L. ở Việt Nam, lạc tiên là loài mọc tự nhiên, có vùng phân bố rộng rãi nhất. Cây phân bố khắp các tỉnh trung du, vùng núi thấp dưới (1000m) và đôi khi cả vùng đồng bằng. Lạc tiên là cây ưa ẩm và ưa ánh sáng, thường mọc trùm lên các cây bụi ở ven rừng, đồi, nhất là các trảng cây bụi tái sinh sau nương rẫy. Cây trưởng thành mạnh là khoảng giữa tháng 3 đến tháng 8. Hoa quả nhiều hàng năm. Mùa đông cây có hiện tượng rơi rụng lá. Tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Sau khi chặt, phần còn lại tái sinh cây chồi khỏe.

Nguồn lạc tiên ở Việt Nam nhìn chung khá dồi dào. Lượng khai thác hàng năm không ảnh hưởng nhiều tới dự trữ tự nhiên. Cây bị tàn phá chủ yếu do nạn phá rừng lấy đất canh tác.

Kỹ thuật trồng

Lạc tiên là cây cận nhiệt đới, có thể trồng được ở vùng đồng bằng, nhưng trồng ở miền núi (có độ cao trên 1000m), cây cho quả có chất lượng tốt hơn, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc đơn giản, Cây được nhân giống bằng hạt, bằng cành giâm hoặc áp cành.

Hạt lấy ra khỏi quả, rửa sạch, hong khô nơi râm mát rồi gieo ở vườn ươm, sau 2 - 3 tuần sẽ nảy mầm. Ngâm nước trước khi gieo, hạt sẽ nảy mầm nhanh hơn.

Cách cắm cành (cắm hom):

+ Cành dùng để cắm không được quá già, chặt thành đoạn có từ 3 mắt trở lên, trồng thẳng hoặc giâm cho ra rễ. thời vụ giâm tốt nhất vào mùa xuân.khi cắt cành ra khỏi cây mẹ vấn đề kỹ thuật chính là làm sao cho cành ra rễ, cành dùng để cắm phải lấy trên những cây mẹ còn non, tốt nhất là lấy ở cây chưa ra hoa quả và cây cũng không được quá già.

+ Muốn dễ sống, nên lấy cành xiên, ở phía trên tán cây có lóng sinh trưởng tận cùng (hoặc không có cũng được) lá mọc dày, lóng ngắn chứa nhiều gluxit và auxin kích thích việc ra rễ. Cành ngọn mọc thẳng đứng lóng dài, nhiều đạm nhiều nước không tốt. Cành cắm to nhỏ dài ngắn tùy loại cây.

+ Cắm hom trên luống ương sạch cỏ. Để hom ra rễ không yêu cầu trong đất có nhiều chất dinh dưỡng mà trước tiên là đủ độ ẩm và nhiều oxy, và không có các vi khuẩn xâm nhập vào hom. Vậy khi sản xuất cây con hàng loạt bằng cách cắm hom, môi trường thường dùng là cát khô rửa sạch. Cũng có thể dùng tro nhưng là tro trấu, tro vỏ dừa, vừa có độ xốp cao vừa không có nhiều kali làm cho pH quá cao.

+ Giữ ẩm ở chân hom và quanh hom cũng rất quan trọng nên phải tưới thường xuyên.

+ Chăm sóc vườn ương sau khi cắm hom có ý nghĩa quyết định tới tỷ lệ sống. Trước hết phải có mái che che nắng, đặc biệt cho các hom còn lá dễ mất nước do bốc hơi qua lá. Cũng cần có một phần ánh sáng cần thiết cho hoạt động của búp và lá. Cần tưới thường xuyên để giữ ẩm nhưng đất lại phải thoát nước và lúc nào cũng phải có một lượng oxy tối thiểu để cho rễ hình thành, cho nên đất luôn luôn cần giữ ở trạng thái xốp và ẩm. Ở nhiệt đới không do rét nhưng phải đề phòng nhiệt độ quá cao làm nước bốc hơi và tăng cường thở hút, đều cản trở ra rễ. Vậy phải che mát luống ương và trên mặt luống giữ một độ ẩm không khí tối thiểu. Khi hom ra rễ, mầm bắt đầu phát triển lại - giảm độ che phủ tăng dần độ chiếu sáng.

Lạc tiên không đòi hỏi đạc biệt về chất đất, có thể trồng trên đất cát, đất xấu, nhưng cây sẽ sinh trưởng phát triển tốt hơn nếu trồng trên đất nhiều màu, sâu, thoát nước. Khi trồng, đào hố 40 x 40 x 40 cm, bón lót 10 - 15 kg phân chuồng.

Trồng quanh nhà có thể cho leo lên tường, hàng rào hoặc giàn.

Nếu trồng thành ruộng thì khoảng cách cây là 2 - 3 x 5 - 6 m và cần làm giàn, tốt nhất là loại giàn phẳng như giàn mướp. Cây cần có đầy đủ ánh sang, vì vậy cần tỉa bớt cành lá, tránh để quá rậm rạp.

Trồng bằng hạt, sau 18 – 24 tháng cây sẽ cho quả. Quả chin sau khi ra hoa khoảng 3 tháng, được thu vào tháng 6 – 7 và tháng 9 – 10. Cây 3 năm tuổi cho từ 20 – 25 kg quả, 1 ha đạt 12 – 15 tấn. Thâm canh tốt có thể đạt 30 tấn/ha.          

Nếu trồng theo quy mô lớn thì chu kì là 3 – 4 năm. Sau đó cần xử lí đất và luân canh vì cây bị tuyến trùng gây hại. Ngoài ra cần chú ý phòng trừ rệp, nhện đỏ, ruồi đục quả…

 

 

 

 

 

MUỒNG HOÈ

 

Tên latinh: Cassia tora L.

Tên khác: thảo quyết minh.

Họ: Đậu (Fabaceae)

 

Phân bố, sinh thái:

Cho đến trước năm 1980, Cassia vẫn được coi là một chi lớn, với trên 500 loài. Gần đây một số nhà phân loại học đã chia chúng thành 3 chi: Cassia L. có khoảng 30 loài, Senna Miller khoảng 260 loài và số còn lại thuộc chi Chamaecrista. Loài Thảo quyết minh được xếp vào chi Senna Miller, phân bố rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới.Ở Việt Nam, thảo quyết minh phân bố hầu như ở khắp các địa phương, trừ những nơi thuộc vùng núi với độ cao trên 1000m. Cây thường mọc thành đám đôi khi thuần loại trên những chỗ đất trống ở chân đồi, thung lũng, ven đường đi, nương rẫy,bờ đê, bãi song, hoặc quanh làng bản. Thảo quyết minh là loại cây ưa sang, thích nghi cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. Cây có thể sống được trên nhiều loại đất, song tốt nhất là đất có thành phần cơ giới nhẹ, pha cát, dễ thoát nước. Hàng năm, cây con mọc từ hạt vào tháng 3 – 4, sau đó sinh trưởng mạnh và đến tháng 6 – 7, bắt đầu có hoa quả, Quả thảo quyết minh chín vào cuối mùa thu, khi khô tự mở cho hạt thoát ra ngoài. Vào thời điểm này cây cũng bắt đầu tàn lụi.

Việt Nam có nguồn thảo quyết minh khá dồi dào. Ở các tỉnh thuộc vùng núi thấp va trung du (kể cả vùng cao nguyên trung bộ), mỗi năm thu mua được hàng trăm tấn hạt khô, cung cấp thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, với mức độ khai thác như hiện nay, thực tế vẫn chưa tận dụng hết tiềm năng vốn có của cây. Ở một số tỉnh như Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây…người dân đã chủ động trồng thảo quyết minh trên các bờ kênh mương, bãi hoang với tác dụng phủ đất, lấy cành lá làm phân xanh, hạt làm thuốc.

Cách trồng

Thảo quyết minh rất dễ trồng, sống khỏe, chịu hạn tốt. cây được nhân giống bằng hạt. Hạt thu vào cuối mùa thu, phơi khô và gieo vào tháng 2 – 3. Thường gieo thẳng vào hốc cách nhau 50cm dọc bờ rào, bờ mương, đường đi. Ít cần chăm sóc.

 

 

 

MUỒNG TRÂU

 

Tên latinh: Cassia alata L.

Tên khác: Cây lác, muồng lác.

Phân bố, sinh thái

Chi Cassia L. có đến 580 loài trên thế giới, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiêt đới. Ở Việt Nam có 24 loài ddeuf mọc tự nhiên,một số loài dược dùng để tạo bóng cho chè, cà phê hoặc làm thuốc. Muồng trâu có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, sau lan rộng ra các vùng khác tạo thành loài liên nhiệt đới. Ở châu Á, cây phân bố ở Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaysia. Ở Việt Nam, cây phân bố rải rác ở các tỉnh miền núi, nhất là oqr miền Nam, như Bình Dương, Lâm Đồng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Hà Tĩnh… Ở miền Bắc cây được trồng ở các vườn thuốc y học dân tộc

Muồng trâu là cây ưa sang, thườn mọc trên đất ẩm bên bờ suối. Cây rụng lá hàng năm vào mùa đông (ở miền Bắc) và mùa khô (ở miền Nam), do đó mùa hoa quả giữa hai miền có thể lệch nhau đến 2 tháng.

Quả chín khô tách thành 2 mảnh, hạt rơi xuống đất, tồn tại qua đông và sẽ nảy mầm vào cuối mùa xuân năm sau. Cây có khả năng tái sinh sau khi bị chặt đốn.

Cách trồng

Muồng trâu hay được trồng ở các vườn cây thuốc. Cây không chịu được úng và không trồng được ở vùng núi cao với thời tiết quá lạnh. Cây được nhân giống dễ dàng bằng hạt. Hạt gieo trong vườn ươm vào tháng 2 – 3, cây con được đánh đi trồng vào tháng 4 – 5. Còn có thể trồng băng cành vào mùa xuân.

Khi trồng đào hố 50 x 50 x 50 cm, cách nhau 2 – 3 m. Mỗi hố bón lót 5 – 7kg phân chuồng, trộn đều phân với đất, rồi đặt cây giống, dận chặt gốc tưới nước giữ ẩm. Thỉnh thoảng cần làm cỏ vun gốc. Vào thời kì cây sinh trưởng mạnh, cần bón thúc bằng các loại phân hữu cơ hoặc phân đạm. Sâu hại chính là sâu xanh và sâu róm. Tốt nhất là nên diệt trừ bằng tay khi mới thấy xuất hiện.

 

 

 

NGŨ TRẢO

 

Tên latinh:

Tên khác:

Họ:

- Trồng chủ yếu bằng hạt, phần còn lại sau khi bị chặt cũng có thể tái sinh, cây trồng bằng hạt sau 1 năm tuổi có thể cao gần 1m

 

 

NHO RỪNG

 

Tên latinh:  Lantana camara L.,

Tên khác: Bông ổi, hoa tứ thời, thơm ổi..

Họ: Cỏ roi ngựa (Verbenaceae)

Phân bố, sinh thái

Chi Lantana L. có khoảng 150 loài trên thế giới. Phần lớn là cây bụi, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Mỹ. Một số loài có hoa đẹp được trồng làm cảnh và làm thuốc ở nhiều nơi. Ở Việt Nam chi Lantana L. chỉ có một loài là cây Bông ổi (Lantana camara L.). Cây mọc tự nhiên ở khắp nơi, nhất là các tỉnh trung du và vùng đồi thấp ven biển. Độ cao phân bố của cây lên tới 600m.

Bông ổi là cây ưa sáng, chịu hạn và có thể sống được trên nhiều loại đất. Cây thường mọc rải rác trong các quần thể cây bụi ở đồi, ven đường đi, ven rừng hoặc bờ mương rẫy. Cây mọc ở nơi có nhiều ánh sáng thường ra hoa quả nhiều. Tái sinh tự nhiên bằng hạt tốt. Cây bị chặt phá nhiều lần vẫn có khả năng tái sinh.

Cách trồng

Bông ổi chưa được trồng lớn, mà trồng là cảnh vì có hoa nhiều máu sắc, lâu tàn.

Cây có thể được nhân giống dễ dàng bằng hạt, tách mầm hoặc dâm cành. Cách nhân giống bằng hạt là phổ biến. Hàng năm hạt chin từ tháng 5 đến tháng 7, được gieo vàn tháng 8 – 9 hoặc tháng 2 – 3.

Bông ổi không kén đất, có thể trồng trong chậu, hoặc trồng trong vườn. Trồng thành ô, luống voqis khoảng cách 60 x 60 cm. cây con gieo ươm từ hạt cao 30 – 40 cm. mầm tách từ gốc cây mẹ hoặc cành giâm đã ra rễ đều có thể dung để trồng. Bón lót bằng phân chuồng hoai mục trộn với đất, về sau thỉnh thoảng bón một ít phân vi sinh hoặc NPK tổng hợp.

 

 

 

CÂY SO ĐŨA

 

Tên latinh:

Tên khác:

Họ:

 

 

THẦN XẠ

Tên latinh: Luvunga nitida Pierre

Tên khác:  Sầm sạ, Thần sạ.

Họ:            Cam (Rutaceae).

 

 

CÂY VÚ BÒ

Tên latinh: Ficus heterophyllus L.,

Tên khác:  Vú chó

Họ:            Dâu tằm (Moraceae).

 

Đặc điểm sinh thái, phân bố:

Chi Ficus là chi tương đối điển hình ở vùng đồi thấp, c  Cây phân bố tương đối phổ biến ở Việt Nam, từ vùng núi thấp khoảng 500m trở xuống đến tất cả các tỉnh ở vùng trung du và đồng bằng. Cây mọc tự nhiên thường thấy ở đồi, bờ nương rẫy hay trong các lùm bụi quanh làng. Ruối còn được trồng khắp nơi để làm hang rào hoặc làm cảnh.

Cây chịu hạn tốt,  Có thể trồng bằng cành bánh tẻ và cây chồi từ rễ.

Kỹ thuật trồng:

Giống: hạt, cành bánh tẻ, cây chồi rễ thường dùng để nhân giống.

 

 

CÂY DUỐI

Tên latinh: Streblus asper Lour. (Hình như không phải cây này)

Tên khác:  Ruối , duối, hoàng anh mộc.

Họ:            Dâu tằm (Moraceae).

Đặc điểm sinh thái, phân bố:

Chi Streblus là chi tương đối điển hình ở vùng nhiệt đới châu Á,  Ruối phân bố tương đối phổ biến ở Việt Nam, từ vùng núi thấp khoảng 500m trở xuống đến tất cả các tỉnh ở vùng trung du và đồng bằng. Cây mọc tự nhiên thường thấy ở đồi, bờ nương rẫy hay trong các lùm bụi quanh làng. Ruối còn được trồng khắp nơi để làm hang rào hoặc làm cảnh. Do khả năng tái sinh cây chồi khỏe, đặc biệt là có thể mọc ra nhiều chồi trên những cành còn lại sau khi bị cắt, nên người ta dễ dàng tạo dáng cho cây.

Ruối là cây ưa sáng và chịu hạn tốt, ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Có thể trồng bằng cành bánh tẻ và cây chồi từ rễ.

Kỹ thuật trồng:

Giống: hạt, cành bánh tẻ, cây chồi rễ thường dùng để nhân giống.

 

Về đầu trang

PHÈN ĐEN

Tên latinh:              Phyllathus reticulates Poir.

Tên khác:              Tạo Phàn Diệp.

Họ:                         Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Đặc điểm sinh thái, phân bố:

Phèn đen là loài cổ nhiệt đới, phân bố khá phổ biến ở vùng Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây mọc hầu như ở khắp các tỉnh, từ vùng đồng bằng đến trung du và vùng núi thấp ở độ cao dưới 500m. Song các tỉnh  có phèn đen mọc tập trung nhất ở vùng trung du Bắc Bộ, gồm Bắc Ninh , Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình…

Phèn đen là cây ưa ẩm, hơi chịu bong, thường mọc thành các bụi lớn dọc theo các bờ nước, ở ven rừng núi đá vôi, bờ nương rẫy và lẫn trong các lùm bụi quanh làng. Cây có khả năng phân cành nhiều ngay từ gốc, ra hoa quả nhiều hàng năm. Nước và chim là những tác nhân phát tán hạt giống đi khắp nơi. Cây có khả năng tái sinh cây chồi khỏe sau khi bị chặt.

Thông thường về chiều tối (nhất là vào mùa thu), từ bụi phèn đen bốc ra một mùi rất khó chịu, hoàn toàn không giống với mùi khi vò nát lá.

 

Kỹ thuật trồng :

Giống :         hạt , cành.

Thời vụ:       gieo trồng vào mùa xuân.

Cách trồng : đánh rạch dọc theo chỗ định trồng, gieo hạt hoặc cắm cành theo rạch. Có thể rạch 2 rạch liền nhau để cây mau kín. Cây không cần chăm sóc nhưng nếu được bón phân càng tốt.

 

 

 Về đầu trang

CÂY LỨC

Tên latinh:             Pluchea pteropoda Hemsl.

Tên khác:              Lức, 

Họ:                        Cúc (Asteraceae).

Đặc điểm phân bố, sinh thái:

Chi Pluchea. Có 35 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Việt Nam có 4 loài. Ở Việt Nam, Cây Lức mọc hoang nhiều ven biển.  là loại cây bụi, thường xanh, ưa sáng và có thể chịu hạn tốt. Cây mọc nhanh trong mùa xuân –hè, ra quả nhiều ở nơi dãi nắng, tái sinh vô tính mạnh. Hạt có túm lông, phát tán xa. Thân và cành có thể dùng nhân giống.

Kỹ thuật trồng:

Cây sống khỏe ,dễ trồng, xanh tốt quanh năm, chịu hạn, không sâu bệnh.

Giống: Thân, cành. Chọn những thân cành bảnh tẻ, chặt thành từng đoạn 30- 40 cm để làm giống.

Thời vụ:  mùa xuân.

Cách trồng: nếu trồng làm hàng rào thì đánh rạch, đặt hom giống hơi nghiêng, để 1/3 đầu thò lên khỏi mặt đất với khoảng cách 20- 30 cm. Sau đó lấp đất, dận chặt và tưới nước. Ở các vườn thuốc, vườn thực vật người ta thường trồng thành vạt hoặc theo các mô hình nhất định. Đất được cày bừa cẩn thận và trồng thành hốc với khoảng cách 30- 50 cm.

Chăm sóc: cây gần như không cần chăm bón, có thể thu hoạch quanh năm. Cây có khả năng tái sinh mạnh nên có thể tỉa cả cành rồi tuốt lấy lá. Nếu thu hoạch rễ không cần đào cả cây mà có thể đào xung quanh, cắt lấy rễ bên, để lại rễ chính và lấp đất, tưới nước, cây lại tiếp tục sinh trưởng.

 

 Về đầu trang

VÔNG NEM

Tên latinh:        Erythrina variegata L. var. Orientalis(L.)Merr.  .

                           Erythrina indica Lamk. , E. spathacea DC.

Tên khác:          lá vông, hải đồng, thích đồng, La tạo (Chăm).

Họ:  Đậu (Fabaceae)

Đặc điểm phân bố, sinh thái:

Chi Erythrina L. có khoảng 110 loài trên thế giới, phân bố chue yếu ở vùng nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ở Châu Mỹ 70 loài, sau đến Châu Phi 32 loài, Châu Á có 18 loài trong đó có Việt Nam có 6 loài, Malaixia có 8 loài. Phần lớn là mọc tự nhiên, 1 số trồng làm cảnh.

Vông nem có nguồn gốc ở vùng ven biển đông Phi, phân bố khắp từ Châu Phi đến vùng nhiệt đới Nam Á( Ấn Độ, Xrilanca), Đông Nam Á( Malaysia, Thái Lan, Philipin, Indonesia, Papua Nui Ghine, Lào, Campuchia) các đảo ở Thái Bình Dương, Australia( Queenland) và cả ở phía nam Trung  Quốc. Ở Việt Nam, vông nem mọc tự nhiên và được trông rải rác khắp các tỉnh thuộc vùng núi thấp( dưới 1000m), trung du và đồng bằng. Cây thường được trồng làm bờ rào ở nương rẫy, vườn nhà. Ngoài ra, ở vùng tây Quảng Bình, Tây Nguyên có người trồng vông nem làm giá để cho hồ tiêu hoặc trầu không leo.

Vông nem là cây ưa sáng và phân cành nhiều, thích hợp với vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm; giới hạn về nhiệt độ trung bình ở những nơi có vông nem thường khá rộng, từ 21- 26o C. Cây có khả năng chịu được nóng và khô, nhiệt độ tối cao trung bình đến 38oC ; rụng lá về mùa khô hoặc mùa đông ở các tỉnh phía bắc. Đầu mùa xuân khi chưa ra lá non cây đã bắt đầu có hoa. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc ( bờ hồ Hoàn Kiếm- Hà Nội) thường rất lâu năm mới thấy hoa, song rất hiếm có quả. Vông nem có khả năng tái sinh dinh dưỡng khỏe sau khi  bị chặt phá, phần còn lại đều mọc thành cây chồi.

Kỹ thuật trồng:

Giống:        vông nem được nhân giống dễ dàng bằng giâm cành. Chọn cành bánh tẻ, chặt thành từng đoạn 30- 40 cm.

Thời vụ:       có thể trồng quanh năm, trừ thời kì mưa quá nhiều. Mùa đông cây ngừng sinh trưởng.

Cách trồng: cành đặt nghiêng  thành hàng dọc, lấp đất gần kín hom giống. Vào các mùa khô cần tưới ẩm.

Chăm sóc:  cây không  cần chăm sóc, ít sâu bệnh.

           

 Về đầu trang

HỔ VĨ

Tên KH: Sansevieria zeylanka.

Tên khác: Lưỡi cọp xanh , lưỡi hùm , đuôi hổ vằn.

Họ: Thùa (Agavaceae). 

Đặc điểm sinh thái:

Hổ vĩ  có thể  có nguồn gốc từ Srilanca, sau được phát triển ra khắp các vùng nhiệt đới khác. Cây được trồng làm cảnh phổ biến ở Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Philippin, Campuchia, Lào, Việt Nam và Trung Quốc. Ở Việt Nam, Hổ vĩ cũng là cây  trồng  làm cảnh ở nhiều  nơi và đã trở nên hoang dại hóa ở nương rẫy của một số địa phương ven biển miền Trung. Hổ vĩ chịu được thời tiết nắng nóng (trên 400), khô hạn , đồng thời cũng có thể  sống được qua mùa đông lạnh , với nhiệt độ thấp tuyệt đối ở 00C ( vùng Sa pa). Hổ vĩ trồng ở các tỉnh phía Nam ra hoa quả nhiều hơn các tỉnh phiá Bắc. Cây còn có khả năng đẻ nhánh khỏe từ gốc , các nhánh con được tách ra làm cây giống để trồng. 

 Về đầu trang

NGA TRUẬT

 

Tên khoa học: Curcuma aeruginosa Rosc.

Tên khác: Tha mo chu (tiếng Chăm), Nghệ đen, nghệ tím,ngải tím.

Họ : Gừng ( Zingiberaceae)  

Phân bố, sinh thái :

Chi Curcuma L.gồm khoảng 50 loài  , phân bố khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, Bắc Australia và một số đảo ở Thái Bình Dương.  phần lớn là cây mọc tự  nhiên. Một số loài là cây trồng để làm gia vị , lấy chất màu và làm thuốc; Ở Việt Nam Nga Truật phân bố rộng rãi khắp các tỉnh miền núi và trung du , nhất là Hà Giang , Lai Châu , Yên Bái , Lào Cai, Tuyên Quang , Sơn La, Cao Bằng …ở  phía Nam có tỉnh Bình Định và Quảng Nam .Cây còn được trồng rải rác trong nhân dân . Ở Hưng Yên (vùng Nghĩa Trai),, nga truật được trồng đại trà ở ruộng , để chủ động cho việc  cung cấp nguyên liệu

Nga truật là loài cây thảo , có hệ thống thân rễ phân nhánh phát triển , phần trên mặt đất lụi vào mùa đông (ở Miền Bắc) và mùa khô( ở miền Nam) .Cây thường mọc thành khóm,  đôi khi trở thành   quần thể thuần loại trên đất ẩm , gần bờ suối trong thung lũng hay trên nương rẫy . Độ cao từ vài trăm mét đến 1600m. Cây ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. Vào giữa mùa xuân, từ thân rễ mọc lên nhiều thân khí sinh.Song trong một nhóm thường có một thân chính sinh ra từ thân rễ. Phần thân rễ này , thường gọi là “củ cái” chỉ tồn tại sau tự thối rữa, để lại các phần thân rễ non hơn phát triển thành những “củ cái” mới.

Việt Nam có nguồn nga truật tự nhiên phong phú. Riêng ở tỉnh Hà Giang, qua điều tra ,ước tính có thể khai thác vài ngàn tấn dược liệu một năm. 

Cách trồng

Nga truật được trồng chủ yếu trên đất tận dụng ở bờ ao, bờ suối , nơi có bóng râm ở trung du và miền núi.

Giống: Trồng nga truật bằng rễ củ , khi thu hoạch chọn củ non có mầm để làm giống.

Thời vụ: Trồng Nga truật vào mùa xuân, thu hoạch vào mùa đông.

Làm đất: Đất trồng thường không cần bày bừa mà chỉ cần cuốc xới ,

Kĩ thuật trồng: không lên luống mà trồng theo hốc,mỗi hốc 1-2 mầm giống. Khoảng cách trồng 30-40 cm cho một cây. Khi cây mọc thỉnh thoảng làm cỏ, xới xáo,tưới phân chuồng , nước giải hoặc phân đạm.Nga truật được trồng chủ yếu theo tập quán quảng canh với năng suất thấp.  

Về đầu trang

     

TRINH NỮ

Tên khoa hoc:  Mimosa pudica L.

Tên khác: Xấu hổ, cỏ thẹn, hàm tu thảo, cây mắc cỡ.

Họ: Đậu (Fabaceae)

Phân bố, sinh thái:

Chi Mimosa L. có khoảng 400 loài trên thế giới, phấn bố chủ yếu ở khu vực châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Ở Việt Nam  có 4 loài, trong đó có cây xấu hổ. Tuy nhiên, loài này ở châu Á được biết đến với 4 loài (var), căn cứ vào sự khác nhau của chiều dài chỉ nhị  và lông ở ống tràng : M. pudica L. var. pudica; M . pudica L.var . hispida Brenan ; M. pudica L . var. tetrandra ( Humb.& Bonpl. ex Willd.) DC.; M. pudica L. var .unijuga. Duchass. & Walp.) Griseb. Trong đó, 3 thứ ( var.) sau phân bố rộng rãi ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á, bao gồm Ấn Độ, Malaysia, ;Indonexia, Philippin,, Lào, Campuchia, Papua New Ghuinea, Việt Nam và Nam Trung Quốc…Tuy vậy, về nguồn gốc chung của loài xấu hổ ( M. pudica L.) lại có xuất xứ từ vùng châu Mỹ nhiệt đới. Ở Việt Nam, xấu hổ phân bố rộng rãi khắp nơi, từ đồng bằng đến miền núi độ cao dưới 1000m.Xấu hổ thuộc loại cây thảo sống một năm. Cây con mọc từ hạt vào khoảng cuối mùa xuân; sau 3 tháng sinh trưởng và phát triển nhanh, cây đã có quả già và hoàn thành vòng đời của nó. Xấu hổ là cây ưa ánh sáng, thường mọc trên đất ẩm ở bãi sông, ven đường đi, nương rẫy hay ở các ruộng bỏ hoang.  Cây có khả năng chịu được khô hạn và nắng nóng ( nhiệt độ lên tới 38oC) ở các vùng bán hoang mạc ở miền Trung. Xấu hổ ra hoa quả rất nhiều; khi quả già tự mở, hạt phát tán gần, vì thế cây thường mọc tập trung thành đám dày đặc ảnh hưởng tới cây trồng. Để diệt trừ loại cỏ dại này, người ta thường phát bỏ lúc cay còn non ( chưa có quả già), sau đó đốt cháy.

Về đầu trang

 

TRINH NỮ HOÀNG CUNG

Tên khoa học: Crinum latifolium L.

Tên khác: Tỏi nơi lá rộng.

Họ: Loa kèn đỏ (Amaryllidaceae).

Phân bố và sinh thái:

Chi Crinum L. có khoảng 100 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới; trong đó một số loài được trồng làm cảnh và làm thuốc tương đối phổ biến.

Trinh nữ hoàng cung có nguồn gốc từ Ấn Độ, hiện được trồng rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Philippin, Lào, Campuchia, Việt Nam, Ấn Độ và cả ở phía Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam cây được trồng chủ yếu ở các tỉnh từ Quảng Nam, Đà Nẵng trở vào sau được trồng ở các tỉnh miền Bắc.

Trinh nữ hoàng cung là cây ưu ẩm ưa sáng hoặc có thể chịu bóng một phần, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt đới, với nhiệt độ trung bình từ 22oC đến 27oC, lượng mưa trên 1500mm/năm. Trinh nữ hoàng cung sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè, mỗi năm 1 cây có thể sinh ra 6- 8 lá mới. cây trồng ở phía Bắc có hiện tượng hơi tàn lụi vào mùa đông. Cây có khả năng đẻ nhánh khỏe, hàng năm có thể thêm 3 -5 hành con từ thân hành mẹ. Cây trồng được 3 năm sẽ tạo thành 1 khóm lớn, có đến 20 nhánh ở các tuổi khác nhau.

Trinh nữ hoàng cung ra hoa hàng năm, nhưng không đậu quả ở Việt Nam. Trong khi đó ở Thái Lan, Ấn Độ có thể thu được hạt giống để nhân trồng.

Cách trồng

Trinh nữ hoàng cung đang được trồng ở nhiều nơi từ miền bắc đến miền nam.

Giống: Cây được nhân giống bằng thân hành .Chọn thân hành bánh tẻ chưa ra hoa, không sâu bệnh để làm giống.

Thời vụ: Trồng cây vào mùa xuân ( tháng 2 -3 ) ở miền bắc và vào đầu mùa mưa ở miền Nam.Đầu năm hầu như không đẻ nhánh. Tuăm thứ hai trở đi, cây mới bắt đầu đẻ nhánh. Vì vậy, tốc độ nhân giống rất chậm, nhất là khi cần nhân 1 dòng đã chọn lọc. hiện nay, đã có phương pháp nhân dòng vô tính khá nhanh bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro.

Làm đất: Trinh nữ hoàng cung hơi ưa bóng ưa ẩm ( luôn luôn là 60 – 70 %). Chọn loại đất thịt nhẹ hoặc trung bình có khả năng giữ ẩm. đất cần cày bừa kĩ để ải, bón lót cho mỗi hecta 25 -30 tấn phân chuồng, 500kg supe lân, 300 kg sulfat kali. Trộn đều phân với đất lên luống cao 25 – 30 cm, mặt luống rộng 0,8m rồi trồng 2 hàng, mỗi hốc trồng 1 thân hành với khoảng cách 40x40. khi trồng cần cắt bỏ hết rễ, cắt bớt lá, vùi sâu vừa hết phần thân hành.

Thường xuyên làm cỏ, xới xáo, vun kín thân hành ,tưới đủ ẩm. cây có thể chịu được ngập úng vài ngày.

Sau khi trồng 40 -50 ngày, bắt đầu bón thúc lần đầu, mỗi hecta dùng 50 kg ure pha loãng với nước, tưới cung quanh gốc. đến tháng 6 -7 đã có thể thu hoạch lá. Sau mỗi lần thu lá ( khoảng 25 – 30 ngày )  lại bón thúc như trên. Chỉ thu những lá bánh tẻ, thu đến khi cây ngừng sinh trưởng ( vào mùa đông nhất là ở miền bắc ). Trồng một lần có thể thu hoạch trong nhiều năm.hàng năm khi cây chuẩn bị sinh trưởng trở lại, cần bón thúc them phân, lượng phân các loại bằng ½ lượng bón lót để duy trì độ phì và độ tơi xốp của đất.Thời gian đầu có thể trông xen cây họ đậu, cỏ ngọt, kim tiền thảo hoặc cam, chanh bưởi, quýt nhưng chú ý chỉ được che bóng không quá 30%.

Phòng ngừa sâu bệnh: Trinh nữ hoàng cung bị 1 loại sâu đặc hiệu gây hại nghiêm trọng, đó là Brithys crini Fabricicus thuộc họ Noctuidae, bộ Lepidoptera. Sâu xuất hiện vào đầu tháng 2 gây hại tất cả các bộ phận. phòng trừ bằng Tập kỳ 1,8 EC ( 8ml/10 l nước, tương đương 0,0144g a.i/ ao l nước ) hoặc Vicarp 95 BHN ( 0,1 – 0,2%), phun toàn cây vào buổi chiều râm mát.

Về đầu trang

 

KEO GIẬU

 

Tên KH                Leucaena leucocephala (Lam.) De Wit

Tên đồng nghĩa:   Leucaena glauca L.,

Tên khác: Bồ kết dại, nam táo nhân.

Họ                         họ Đậu (Fabaceae)

Phân bố, sinh thái

Keo giậu là cây ưa sang, sống được trên nhiều loại đất, kể cả đất khô cằn. Cây có bộ rễ phát triển, chịu được khô hạn, mọc ở các tỉnh phía bắc có hiện tượng rụng lá về mùa đông. Ra hoa quả nhiều, tái sinh tự nhiên từ hạt và cây chồi gốc sau khi chặt.

Cách trồng

Keo giậu thường được trồng trên đất tận dụng ven đường, bờ sông, bờ ao, quanh vườn. Cây được nhân giống bằng hạt. Hạt gieo vào tháng 2-3, cây con trồng vào tháng 8-9 hoặc mùa xuân năm sau. Khi trồng, đào hố 50 x 50 x 50 cm, cách nhau 5-6 m, bón lót 5-10kg phân chuồng, đặt cây giống, dận đất chặt gốc và tưới ẩm. Nên cắm cọc, buộc cây lại để chống gió lay. Chú ý giữ cho trâu bò không phá hại.

Bộ phận dung

Hạt. Khi quả chin, thu hái vào mùa hạ - thu, rồi đập lấy hạt, đem phơi hoặc sấy khô. Còn dùng rễ.

Công dụng

Hạt keo giậu được coi là một thuốc tẩy giun đũa thong dụng với cách bào chế đơn giản và dễ dùng. Ngoài ra, hạt keo giậu còn là thành phần trong viên Phì nhi cam tích với các vị khác như sử quân tử, hoài sơn, ý dĩ, sơn tra, hạt sen, mạch nha. Trẻ con thường ăn hạt keo giậu xanh, không kể liều lượng, cũng thấy ra giun mà không có hiện tượng ngộ độc.

Về đầu trang

 

 

NHÀU

 

Tên KH        Morinda citrifolia L.,

Tên khác     Cây ngao, nhàu rừng, nhàu núi.

Họ                 Cà phê (Rubiaceae).

Phân bố, sinh thái

Nhàu phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới châu Á, từ Đài Loan, Hải Nam – Trung Quốc đến Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Ấn độ, Australia, và một số đảo ở Thái Bình Dương. Cây được trồng ở một số địa phương Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

Nhàu là cây ưa sang, hơi chịu bóng khi còn nhỏ. Trong tự nhiên, có thể thấy cây mọc ở rừng thứ sinh hoặc rừng phục hồi sau nương rẫy. Nhân dân ở một số nơi rừng ven biển miền Trung (Khánh Hoà, Bình Định),  thường trồng nhàu lẫn với cây ăn quả ở vườn. Là cây thuốc được dùng ở nhiều nước. một số sản phẩm từ cây nhàu được bán , cây còn được trồng cả ở cánh đồng.

Cách trồng

Nhàu ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, sau khi chặt tái sinh cây chồi gốc khoẻ.

Bộ phận dùng

Vỏ, rễ, lá, quả phơi hoặc sấy khô.

Công dụng

Rễ nhàu được nhân dân miền Nam dung chữa cao huyết áp. Rễ thái nhỏ, phơi khô sắc nước uống thay chè với liều 10-20g mỗi ngày. Sauk hi dung thuốc 14-15 ngày, bắt đầu thấy kết quả; sau đó giảm liều dung lien tục trong vài tháng thì huyết áp ổn định.

Ngoài ra, rễ nhàu thái nhỏ, sao vàng ngâm rượu, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần một thìa canh chữa chứng nhức mỏi, đau lưng, tê  bại. Có thể dùng quả nhàu non thái mỏng, sao khô, để thay thế.

Quả nhàu chin ăn với muối có tác dụng giúp tiêu hoá, nhuận tràng, lợi tiểu, điều kinh. Quả nhàu non (3 quả) phối hợp với rễ mía dò (10g), củ tầm sét (10g); phơi khô, tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống trong ngày chữa tụ huyết do ngã hay bị đánh. Quả nhàu nướng chin ăn chữa kiết lỵ.

 Về đầu trang

 

 

DÂY ĐAU XƯƠNG

 

Tên KH              : Tinospora sinensis (Lour.) Merr  

Tên đồng nghĩa Tinospora tomentosa  (Colebr.) Miers

Tên khác            : Lay dẹ (tiếng Chăm), Khoan cân đằng, tục cốt đằng,

Họ                        : Tiết dê ( Menispermaceae).

Mô tả

Dây leo bằng thân quấn, dài 8-10m. Thân hình trụ, màu xám, có nốt sần và có long. Lá mọc so le, hình tim, đầu tù hay nhọn, dài 10-12cm, rộng 8-10cm, gân lá 5 hình chân vịt, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông tơ, đôi khi trắng nhạt.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chum đơn độc hoặc nhiều chum, có lông tơ màu trắng nhạt; hoa màu vàng lục, đài có 2 vòng, vòng ngoài gồm 3 răng hình mác, 3 răng vòng trong rộng và dài hơn; tràng có 6 cánh đối diện với lá đài trong, có lông tuyến ở gốc; nhị 6, bao phấn hình vuông.

Quả hình bầu dục hoặc hình tròn, khi chin màu đỏ, chứa chất nhầy bao quanh 1 hạt hình bán cầu.

Mùa hoa: tháng 3; mùa quả: tháng 4.

Phân bố, sinh thái

Dây đau xương phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và Australia. Ở châu Á, có Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Lào, Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, dây đau xương phân bố rải rác khắp vùng đồng bằng, trung du và các vùng núi thấp với độ cao dưới 88m.

Dây đau xương thuộc loại dây leo gỗ, rụng lá về mùa đông, ưa ẩm và hơi chịu bóng, mọc lẫn quanh các bụi cây quanh làng bản, ven rừng, đồi, bờ mương rẫy, gần các nguồn nước. Cây sinh trưởng mạnh trong các mùa xuân-hè, có khả năng tái  sinh vô tính mạnh. Trồng dễ dàng bằng các đoạn thân và cành.

Cách trồng

Dây đau xương được nhân giống bằng cành. Vào tháng 2-3, cọn cành bánh tẻ, khỏe mạnh, cắt thành từng đoạn 40-50cm để làm giống. Có thể dùng đoạn dây dài hơn và cuộn tròn lại để trồng.

Cây trồng trên mọi loại đất, nhưng cần cao ráo, thoát nước, không bị úng ngập. Thường trồng cạnh các cây to để lợi dụng làm giá thể cho cây leo. Có thể đào thành hố sâu 30-40cm, rộng 30-50cm hoặc đánh rạch như cách trồng khoai lang. Sau đó đặt hom giống hơi nghiêng, lấp đất sâu 20-30cm, dận chặt và tưới nước. Nếu dùng hom giống dài, cuộn tròn thì lấp đất khoảng 2/3 vòng, để 1/3 thò lên khỏi mặt đất.

Để cây sinh trưởng tốt, bần bón lót cho mỗi hốc 5-7kg phân chuồng và dùng nước giải, nước phân hoặc phân mục để bón thúc. Năm đầu, bón thúc một đợt vào tháng 6-7. Từ năm thứ hai trở đi, mỗi năm nên  bón thúc 2 đợt, vào các tháng 2-3 và 5-6.

Cây có sức đề kháng cao, ít sâu bệnh. Cây 2 năm tuổi có thể cho 20kg thân lá.

Bộ phận dùng

Thân và lá thu hái quanh năm. Đối với thân già cắt thnành tưòng đoạn dài 20-30cm rồi phơi hay sấy khô. Dùng sống hay tẩm rượu sao.

Tính vị, công năng

Dây đau xương có vị đắng, tính mát, có tác dụng mạnh gân cốt, trừ phong thấp.

Công dụng

Dây đau xương được dùng chữa thấp khớp, tê bại, các khớp xương đau nhức, đau mình mẩy, ngã gây tổn thương ứ máu đau nhức, bong gân, sai khớp. Còn dùng chữa sốt rét mạn tính, rắn cắn, làm ngừng nôn mửa và làm thuốc bổ. Ngày dùng 12-20g  thân, cành, dạng thuốc sắc, hoặc thái nhỏ, sao vàng rồi ngâm rượu với tỷ lệ 20% để uống. Dùng lien tục trong 10-15 ngày. Dùng ngoài, giã nhỏ lá dây đau xương, trộn với rượu, đắp lên những chỗ sưng đau.

Dây đau xương được dùng hầu như cùng một cách với dây thần thông ( Tinospora cordifolia). Nó được dùng xông khói để chữa trĩ và những vết thương bị loét và để bào chế những dung dịch thuốc dùng ngâm tắm trị bệnh gan. Rễ luộc chin, ăn trị sốt. Lá và thân cây tươi dùng uống để điều trị thấp khớp mạn tính.

Về đầu trang

 

 

 

ĐẠI

 

Tên latinh: Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir.) Bailey,

Tên đồng nghĩa: Plumeria acutifolia Poir.  họ Trúc đào (Apocynaceae).

Tên khác: Bông sứ, sứ cùi, hoa chăm pa, hoa đại,

Họ: Trúc đào (Apocynaceae).

Phân bố, sinh thái

Đại là cây trồng từ lâu đời ở các đình chùa và nơi công cộng khác. Cây ưa sang, chịu hạn tốt và gần như ít phải chăm sóc. Tuy nhiên, vốn là cây gốc nhiệt đới nên không trồng được ở vùng núi cao lạnh, như Sa Pa, Bắc Hà (Lào Cai)…Đại có khả năng tái sinh vô tính khoẻ. Cây trồng bằng cành thường có hoa ngay trong năm đầu tiên. Cây càng lớn càng có nhiều hoa. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc, rụng lá mùa đông, hoa càng nhiều nhưng không đậu quả. Trái lại, những cây lớn ở các tỉnh phía nam, đôi khi cũng có quả.

Cách trồng

Đại là một cây cảnh đẹp, được trồng ở khắp nơi, trong các đình chùa, di tích lịch sử, văn hoá hay trong các công sở và gia đình để kết hợp làm thuốc.

Đại được trồng bằng cành, chủ yếu vào mùa xuân, các mùa khác cũng có thể trồng đại nhưng cần đảm bảo độ ẩm. Trồng đại ở nơi đất cao, đào hốc để cắm cành. Cần bón lót vào hốc ít phân. Chọn cành bánh tẻ, đặt nghiêng, lấp đất dày độ 20-25cm, tưới nước. Là cây chủ yếu để làm cảnh, nên khi trồng thường chọn vị trí thích hợp. Đôi khi còn được trồng trong bồn, trong chậu.

Đại không cần chăm sóc, không có sâu bệnh. Cây sinh trưởng mạnh vào mùa hè, mùa đông rụng lá.

Bộ phận dùng

Vỏ thân, vỏ rễ sao vàng dùng ngay hoặc phơi nắng cho khô, để dành dùng dần. Hoa đại hái về phơi khô. 

Công dụng

Vỏ thân và rễ cây đại được dùng làm thuốc nhuận tràng, tẩy, chữa táo bón, thuỷ thũng, bí đại tiểu tiện. Dùng vỏ thái mỏng sao thơm 4-5g sắc với nước 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày để nhuận tràng và 5-10g sắc uống như trên để tẩy.

Vỏ đại sắc hoặc hãm uống 3-4 lần trong ngày chữa phù thận đạt kết quả tốt.

Hoa đại khô dùng dưới dạng nước sắc để điều trị một số trường hợp rối loạn mạch và cao huyết áp. Tác dụng hạ huyết áp của hoa đại xuất hiện nhanh và tương đối bền vữngl

Vỏ rễ cây đại 12-20g, ngâm trong 200ml rượu 25-350 trong khoảng 30 phút, ngày ngậm 2 lần không được nuốt chũa chân răng sưng đau. Chú ý không được dùng quá liều.

 

CÙ ĐÈN LÁ DÀY

 

Tên latinh: Croton crassifolium Geiseler

Tên khác:  lơpơtẻ

Họ:            Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Đặc điểm sinh thái, phân bố:

Cù đèn là cây ưa sáng và chịu hạn tốt, mọc hoang nhiều ở vùng đồi núi ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt.

Kỹ thuật trồng:

cây chồi rễ thường dùng để nhân giống.

 

HÀ THỦ Ô ĐỎ

 

Tên latinh:Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson = Polygonum multiflorum L.)

Tên khác:

Họ:Rau răm (Polygonaceae).

Nhân giống: Thường được trồng dễ dàng bằng những đoạn thân hay cành bánh tẻ dài 30-40cm hoặc bằng củ có đường kính 3-5cm. Sau 2-3 năm thì thu hoạch. (Có thể tái sinh bằng hạt).

Cuối tháng 11 đầu tháng 12 dương lịch lá chuyển sang màu vàng và dụng. làm cỏ, xới và vun gốc. Tưới nước phân chuồng loãng + 5 kg Urê /1sào. Tiến hành tưới nước hàng ngày nếu trời hanh khô. Từ cây mẹ nảy ra lá và nhánh cây con trong thời gian từ  40 - 45 ngày cây cao khoảng 40 - 45 cm tiến hành cắt phần thân bánh tẻ ra khỏi cây mẹ đem trồng.

Thời vụ trồng: Thời vụ thích hợp nhất là mùa xuân từ tháng 2 đến tháng 4 dương lịch, khi trồng chọn ngày dâm mát, tránh nắng nóng.

 

 

NGAIR CUU

Trồng bằng những đoạn gốc thân già, đã ra rễ, trồng nơi ẩm, có thể chịu được bóng râm

 

MẠCH MÔN

Tên latinh: Ophiopogon japonicus (Thunb.) Ker. Gawl.)

Tên khác:

Họ: Mạch môn (Haemodoraceae).

- Trồng bằng gốc có rễ vào mùa xuân

- Cây mạch môn ưa ánh sáng tán xạ, rất thích hợp trồng dưới các tán cây ăn quả, vườn nhà, dưới tán cây lâm nghiệp, dưới cây chè; mạch môn ít bị sâu bệnh phá hoại. Lá mạch môn dùng làm thức ăn xanh cho trâu bò cũng rất tốt. Sau trồng 2 năm trở lên có thể cho thu hoạch. Năng suất đạt 400 - 500 kg/sào nơi đất tốt. Hiện nay trên thị trường mạch môn được bán với giá 6500 - 8000đ/kg củ tươi, cho thu nhập hàng triệu đồng/sào/năm. Mạch môn là cây rất dễ trồng: cây giống được tách từng gốc riêng rẽ cắt bỏ phần lá ngọn, giữ lại một đoạn dài 10 - 15 cm.  Cắt bớt rễ chỉ giữ lại 2 - 3cm. Nếu trồng mạch môn với mục đích trồng băng cây xanh trong vườn cây ăn quả khoảng cách băng tuỳ thuộc vào độ dốc có thể thay đổi từ 5 - 20m/băng. Trồng hàng kép, khoảng cách hàng 30cm, khoảng cách cây 20 cm, trồng theo kiểu nanh sấu.

- Trồng che phủ đất: Khoảng cách hàng 30 - 40 cm/hàng, khoảng cách cây 20cm/cây, hay trồng ô vuông 25cm x 25cm/1cây.

- Ở nơi đất có độ dốc nhỏ đào hay rạch hàng trồng cây với chiều rộng 15 - 20cm, sâu 20 - 25cm. Đất có độ dốc lớn, nhiều đá, đào hố trồng cây rộng 20 - 25cm, sâu 30 - 35cm. Bón lót 300 - 400kg phân chuồng + 10kg NPK/sào, trộn đều phân với đất trước khi trồng.

- Trồng cây thích hợp từ tháng 10 đến tháng 3 hàng năm, đặt cây vào rãnh hay hố trồng, lấp đất xung quanh sâu 4 - 5cm,  tưới nước đủ ẩm trong vòng 7 - 10 ngày, tưới nước bổ sung vào các tháng khô hạn. Dặm cây chết kịp thời. Tưới bổ sung đạm khi thấy lá cây vàng do thiếu dinh dưỡng. Hàng năm bón phân 2 lần vào tháng 2 - 3 và tháng 7 -8.

-  Mạch môn có thể thu hoạch sau 2 - 3 năm trồng, tuổi cây càng cao số củ càng nhiều và chất lượng củ tốt. Trước khi thu hoạch 1 năm phải trồng một hàng mạch môn phụ cách hàng sẽ thu hoạch 30 - 40cm, để hạn chế xói mòn khi thu hoạch củ. Đào cây, thu củ, cắt sạch rễ, đãi sạch củ, tước bỏ lõi, đem phơi hay sấy  khô để sử dụng làm thuốc. Lá cây có thể sử dụng cho trâu bò. Thân sử dụng nhân giống.

 

NGŨ GIA BÌ

 

Cây ưa bóng và ẩm lúc nhỏ, khi lớn ưa sáng và có thể sống trong điều kiện khắc nghiệt về đất đai và khí hậu nhu cầu nước trung bình, tái sinh bằng hạt, chồi rễ và giâm cành.

TRẮC BÁCH DIỆP

 

Tên latinh: Biota orientalis  Endl. = Thuja orientalis L.,

Tên khác: Trắc bá

Họ:Trắc bách (Cupressaceae).

-  Là cây có tính chịu lạnh rất cao vì vậy sinh trưởng phát triển tốt ở nơi có mùa đông lạnh và dài. Những nơi ấm, nóng cây thường không xanh lá và sinh trưởng chậm. Trắc bách diệp là cây không yêu cầu nước cao song đòi hỏi phải có nước ẩm đều, không khô hạn.

- Kỹ thuật nhân giống

Trắc bách diệp có thể nhân giống dễ dàng từ cành giâm, cành chiết. Khi chiết cành, chọn cành có đường kính 0,6 – 1cm chiết vào tháng 9 – 10 hàng năm và khoảng 2 – 3 năm sau có thể cắt cành chiết và đem gơ. Đối với giâm cành, chọn cành bánh tẻ, các lá khô còn bám trên cành không nhiều. Giâm các cành này vào tiết đông chí hàng năm khoảng tháng 12 của năm. Sử dụng chất kích thích ra rễ tỷ lệ thành công sẽ cao có thể đạt 70 – 80% số cành giâm.

- Kỹ thuật trồng

Nên chọn các đất thịt trung bình hoặc hơi nặng để trồng. Trắc bách diệp cũng có thể trồng trên đất thịt nặng, đất sét, đất thịt pha cát, song không nên trồng trên đất cát, sỏi, cây sẽ sinh trưởng kém. Để cây sinh trưởng và phân cành tốt, sau này nên bón lót cho đất trước khi trồng, nhất là đối với trồng trong chậu, bồn cảnh. Nên trồng cây con cùng với bầu đất, lấp đất đến cổ rễ của cây, nén nhẹ đất xung quanh gốc và tưới ẩm cho đất từ từ, ít một từ ngoài vào trong, từ trên ngọn xuống dưới để đất không bị váng, cây chóng bén rễ.

 

CÂY VỐI

Ngâm hạt trong nước ấm trước khi gieo ( Hạt nảy mầm nhanh trong 7-20 ngày. Tỷ lệ nảy mầm ban đầu đạt 77%.)

 

 

 

 

 

 

Tên latinh:

Tên khác:

Họ:

 

 

 

        

 

 

t�n VN, KH

h� th�c v�t

b� ph�n d�ng

T. ph�n ho� h�c

c�ng d�ng

home page

 

 

 

 

Bộ môn Dược liệu Trường Đại học Dược Hà Nội. Tel: 0439330236.

Mọi thông tin liên quan đến trang web Xin vui lòng liên hệ theo địa chỉ Email: thannv@hup.edu.vn

Revised: March 30, 2010.

 

Hoành sưu tầm
Số lượt đọc: 2731 - Ngày cập nhật: 08/01/2015
 Về trang trước    Bản in    Về đầu trang
Bài đã đăng:
TRANG CHỦ       GIỚI THIỆU       LIÊN HỆ
Designed by  Ninh Thuan Software